Chủ đề thứ 4: Phần 2
- Kiểm soát đau trong quá trình nhổ răng và hạn chế sưng đau sau nhổ.
- TIÊM TÊ KHÔNG ĐAU LÀ CÓ THẬT.
- Khi nào chọn nhổ dùng Piezotome (nhổ răng siêu âm) khi nào không cần dùng, khi nào cần kết hợp thêm cả tay khoan để đạt hiệu quả nhổ răng tốt nhất.
Có trường hợp chỉ dùng Piezotome để nhổ răng làm kéo dài thời gian nhổ tiên lượng sưng đau lại tăng.
.
Cái sợ nổi bật là sợ tiêm, dù tiêm bất kể cái gì thì nó vẫn là ám ảnh từ trẻ tới già nên phần này sẽ trình bày phương pháp tiêm tê tại chỗ không đau.
Cái thứ 2 là bảo rạch, mài xương, nhổ răng ra bạn chỉ nghe thôi đã thấy sợ đau đau rồi.
Nhưng bạn dễ hiểu rằng đã tiêm tê tốt rồi thì vùng đó mất cảm giác đau, có mà tiêm tê nhổ cả hàm cũng không thấy đau.
Có tổn thương thì lại gây ra viêm, sưng, đau mặc dù đã được giải quyết phần lớn nhờ thuốc ở phần 1 nhưng trong quá trình nhổ vẫn cần có nguyên tắc để giảm sưng đau sau nhổ.
.
.
TÓM TẮT Ý CHÍNH
1. Gây tê
- Chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân.
- Tê bề mặt trước ( bôi tê, xịt tê hoặc tê tạo lạnh, tê ép áp lực) nên bôi cho đơn giản.
- Tiêm tê.
o Loại thuốc tê, loại kim phù hợp để không đau.
o Quy trình tiêm tê không đau, sửa đổi kỹ thuật dựa vào tư duy logic đơn thuần vì quan trọng là không đau và đủ tê chứ đúng kỹ thuật sách viết kiểu gì cũng nhói một cái đau phết.
2. Một số nguyên tắc tạo vạt, mở xương, nhổ răng cần đạt.
- Rạch vạt chuẩn và tối thiểu có thể, chọn loại vạt và cách rạch vì nếu không tìm hiểu thì nhiều Bs dùng 1 loại vạt cho tất cả các răng.
- Mở xương tối thiểu và cách mở xương tuỳ từng trường hợp.
- Chỉ khi nhổ răng khôn đòi hỏi mở xương mới cân nhắc dùng Piezotome. Khi mở nhiều xương cần phối hợp tay khoan thông thường.
- Chứ tôi không thích kiểu tư vấn dùng Piezotome vì tăng phí khi không cần thiết mà đặt vào chỉ để lấy cao răng.
3. Khâu đóng:
- Khâu đóng vạt nên để đường thoát dịch
giúp giảm sưng đau. Đặt dẫn lưu giảm sưng đau nhất nhưng với nhổ răng khôn chỉ là tiểu phẫu nhỏ gây vướng, khó vệ sinh nên thay vào đó chỉ cần để lối thoát dịch viêm sẽ phù hợp hơn.
giúp giảm sưng đau. Đặt dẫn lưu giảm sưng đau nhất nhưng với nhổ răng khôn chỉ là tiểu phẫu nhỏ gây vướng, khó vệ sinh nên thay vào đó chỉ cần để lối thoát dịch viêm sẽ phù hợp hơn.
- Khâu kín nguy cơ sưng, đau cao hơn hẳn nhưng trường hợp BN ở xa và nguy cơ chảy máu cao thì vẫn phải chấp nhận khâu kín chặt.
.
.
PHẦN PHÂN TÍCH
1. GÂY TÊ
- Chuẩn bị tâm lý bệnh nhân:
Cần thiết vì hầu hết bệnh nhân sợ đau, tránh nhắc tới từ “ĐAU” khi làm thủ thuật có thể thay thế bằng từ “KHÓ CHỊU” một chút.
Việc bạn khẳng định chắc nịch là không đau giúp BN yên tâm hơn mặc dù thi thoảng khi cắt răng có ê ê chút.
Phần chém gió này nó đòi hỏi nghệ thuật diễn đạt và cảm nhận nên bài viết này khó diễn tả được. Có người Thầy của tôi nhổ răng xong rồi bệnh nhân vẫn hỏi đã nhổ chưa (chắc ai cũng biết là ai).
Để Bs đạt đến tầm vừa kết hợp lời nói và tay chân thì cần học hỏi và trải nghiệm thực tế lâm sàng nhiều một chút.
Ngay trước, trong và sau nhổ răng có thể dùng vài câu nói đùa vui, an ủi, lời nói giảm nhẹ rất tốt cho tinh thần bệnh nhân.
- Tê bề mặt.
Thường bôi tê tại vị trí định tiêm, hầu hết các loại tê tại chỗ nồng độ cao và có tác dụng thấm xuống dưới giúp tê được khoảng từ 2-3mm độ dày lợi, niêm mạc.
Yêu cầu: bôi tê tối thiểu giữ 1 phút, tốt nhất là 2 phút để tê bôi đạt hiệu quả. Nhiều bác sĩ không chờ đợi tê chưa thấm xuống sâu đã tiêm thì tiêm dễ bị đau hơn.
.
- Thuốc tê, kim tê, tiêm tê.
Thuốc tê:
+ Articaine 4% epinephrine 1:100 000
Ra đời năm 1975, với nồng độ 4% thấm tốt.
Hiệu quả tiêm tê vùng: Tê tuỷ răng hơn 60-75 phút. Tê mô mềm 180-300 phút.
Tiêm tê thấm tại chỗ: khoảng 30- 60 phút.
Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả khuếch tán, thẩm thấu vào mô tốt hơn nên tỷ lệ thành công gây tê tại chỗ cao hơn Lidocaine 2%. ( Geraldo Prisco 2017, Narasimhan Srinivasan 2009)
Vì vậy đôi khi chỉ cần tiêm tê tại chổ, có thể bổ sung thêm tiêm tê dây chằng mà đã đủ để nhổ răng khôn.
Nhưng lượng thuốc dùng tối đa cho phép tương đương Lidocaine nên với nồng độ 4% thì giới hạn chỉ dùng số lượng ống tê bằng nửa so với dùng Lidocaine.
Giới hạn khuyến cáo tối đa: 7mg/kg , 1 ống 1,8ml khoảng 72mg => người 50-60kg dùng tối đa 5 - 6 ống tê/ lần phẫu thuật
.
+ Lidocaine 2% epinephrine 1:100 000
Ra đời năm 1948, hiện nay vẫn thường dùng.
Hiệu quả tiêm tê vùng: Tê tuỷ răng hơn 60 phút. Tê mô mềm 180-300 phút.
Tiêm tê thấm tại chỗ: 30-60 phút.
Giới hạn liều: cũng 7mg/kg => người lớn 50-60kg dùng tối đa 10-11 ống tê/ lần phẫu thuật. Một số tài liệu khuyến cáo 7 ống.
.
Kim tiêm tê:
Kim tiêm tại chỗ: 30 Gauge/kim siêu ngắn (10-12mm) và 27G/ kim ngắn (20-22mm) .
Kim tiêm tê vùng: 25 or 27 G kim dài thì tốt ( 30-32mm) Các phòng khám vẫn dùng kim ngắn (21mm)
Có nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ cảm nhận đau khi tiêm tê bằng kim 25,27,30G không khác nhau với kỹ thuật tiêm tê thông thường.
Nhưng ở đây tôi đề cập đến tiêm tê tại chỗ sửa đổi một chút để chắc chắn rằng bệnh nhân không hề cảm thấy đau.
.
TIÊM TÊ KHÔNG ĐAU LÀ CÓ THẬT VÀ ĐƠN GIẢN DỄ HIỂU.
Như chúng ta đã biết việc đâm kim vào sẽ kích thích thần kinh gây cảm giác đau. Vậy nên với logic đơn giản dễ hiểu là thuốc tê đi trước, kim tê đi sau thì chắc chắc sẽ loại bỏ được cảm giác đau. Tốn thuốc tê thêm tẹo nhưng quan trong là bệnh nhân còn chả biết là đang được tiêm.
Kỹ thuật tiêm tê tại chỗ:
- Bôi tê tại chỗ đủ thời gian 1-2 phút để tê tối thiểu 2mm bề mặt (quan trọng)
- Cách dễ làm và hiệu quả chắc chắn là dùng kim tiêm nhỏ (30G) hướng đâm kim tạo với bề mặt niêm mạc góc nhỏ chỉ khoảng 10-25 độ (giống như kỹ thuật tiêm trong da vậy), vát kim áp về phía xương ổ răng. (kỹ thuật chuẩn sách là 45 độ, dễ gây đau)
.
- Đảm bảo rằng đầu vát kim vùi hoàn toàn trong niêm mạc để có thể bơm thuốc mà kim không vượt quá 2mm tê bề mặt từ trước. Bơm thuốc chậm để hạn chế phồng và ngấm xuống tốt hơn.
Bơm xong có thể kết hợp xoa nhẹ vì kiểu gì cũng có phồng ít. Xoa giúp cho thuốc khuếch tán nhanh hơn đến bề mặt xương.
.
- Tiêm chậm và xoa nắn luôn để thuốc tê thấm xuống và đi trước đầu kim thì không bao giờ bệnh nhân cảm thấy đau dù chỉ một xíu xíu cũng không.
- Với bản thân tôi cũng đã được tiêm tê nhổ 4 răng khôn của mình cảm nhận đau nhất là lúc tiêm tê tại chỗ, cứ nhói nhói chảy cả nước mặt. Không đến mức đau quá nhưng nó khó chịu thật sự. Nên với bệnh nhân của các bạn cũng vậy.
.
- Tốn thêm chút thuốc tê và 1 cái kim nhưng không đau tẹo nào vẫn cứ là ưu tiên lựa chọn của hầu hết các bệnh nhân.
- Có điều tiêm tê không đau đòi hỏi thời gian và kiên nhẫn của bác sĩ, thông thường tiêm đâm nhanh gọn bơm cái xong lại hiệu quả tê tốt, đỡ tốn thuốc tê và vì bao bệnh nhân khác đang đợi, kể cũng khó. Nói đi cũng phải nói lại nếu bạn tiêm không đau tẹo nào thì bệnh nhân này lại đến tai bệnh nhân kia có cái lợi về lâu dài.
.
- Sau khi thuốc đã ngấm đến bề mặt xương thì có thể sử dụng kim 25, 27G tiêm thêm sẽ không còn ngại cảm giác đau nữa. Kim to thì đỡ đâm xuyên dưới màng xương hạn chế bầm tím tụ máu và ngấm tê cũng tốt.
- Nếu không có kim 30G bạn sử dụng kim 27G thông thường với kỹ thuật tương tự cũng có thể đạt được kết quả không đau nhưng khó hơn chút vì đầu vát dài dễ đâm quá 2mm vùng tê tại chỗ sẽ gây ra cảm giác đau.
.
- Viết về tiêm tê lại nhớ một câu chuyện vui về tiêm tê khi tôi còn học nội trú có hướng dẫn cho các em SV tiêm tê theo kỹ thuật chuẩn tê cận chóp là mũi kim chếch 45 độ và hướng tới vị trí tiệm cận chóp răng ở vị trí khoảng 11-15mm tuỳ từng răng tính từ cổ răng. Không cần phải đi từ ranh giới lợi dính – niêm mạc miệng. Vậy mà làm cả nhóm đó toang.
.
- Tôi vẫn nhắc lại vì kỹ thuật chuẩn cận chóp là phải hướng tới ngang chóp răng do nhiều vùng lợi dính hẹp mà đi từ ranh giới để hướng tới chóp quãng đường xuyên kim quá dài, đau, không cần thiết mà cũng bởi chưa tìm thấy kỹ thuật nào như vậy. Giờ lại viết kỹ thuật tiêm trong da cho tiêm tê trong miệng nghe cũng hơi bị bá đạo.
.
Tiêm tê nhổ răng khôn thường chỉ cần tiêm tê thần kinh má và tê vùng răng dưới là đủ, đôi khi vẫn có thể tiêm tê quanh vùng răng khôn để sử dụng tính chất co mạch của thuốc tê giảm chảy máu chứ không quan trọng tác dụng tê.
.
.
Tiêm tê vùng:
Có một người Thầy của tôi nhổ răng khôn dưới cũng không bao giờ tiêm tê vùng, chỉ cần tê tại chỗ là đủ để hạn chế tiêm tê vùng đưa kim vào sâu nguy cơ nhiễm trùng nếu vô khuẩn không tốt và chả may bơm tê vào mạch máu lớn nguy cơ ngộ độc thuốc tê cao. Nhưng do Thầy nhổ quá nhanh thuốc tê chưa hết tác dụng thì răng đã ra rồi.
Thế giới thì họ vẫn kết hợp vì xương vị trí răng khôn đặc, dày khó thấm thuốc tê nên tỷ lệ thất bại cao.
Có cách khác nếu không muốn tê vùng là tiêm tê dây chằng (bơm thuốc vào khoảng dây chằng quanh răng cũng khá hiệu quả) và nên sử dụng loại tê thấm tốt.
.
Còn với hầu hết mọi người vẫn nên tiêm tê vùng để đảm bao tê lâu nhổ răng thoải mái. Có bơm hút ngược là được.
Tiêm tê vùng thật ra không nên dùng cách thuốc tê đi trước đầu kim đi sau vì quãng đường đi của kim quá dài và nguy cơ gãy kim cao.
Việc lựa chọn kỹ thuật tiêm tê trực tiếp đâm nhanh gọn, chính xác, bơm thuốc chậm đã đảm bảo đau không đáng kể. Với cảm nhận của chính bản thân thì lúc tôi được tiêm tê vùng không đau lắm.
Còn nếu bạn vẫn muốn không đau tối đa cả tiêm tê vùng thì vẫn được. Nhưng cần hết sức kiến nhẫn, cẩn thận.
.
.
2. TẠO VẠT, MỞ XƯƠNG, NHỔ RĂNG
Các Thầy vẫn luôn nhắc là nhổ răng thì răng nằm trên xương hàm của người chứ không phải như đào cây trên đất mà thích đào bới thế nào thì đào.
Vì vậy việc tạo vạt, mở xương chỉ ở mức vừa đủ nhổ răng ra được nhẹ nhàng chứ không phải mài hết xương xung quanh cái răng để lấy răng ra cho nhanh, cho dễ.
Làm như vậy sẽ gây mất xương nhiều phía xa răng còn lại và sưng đau nhiều sau nhổ.
.
a) Tạo vạt:
Yêu cầu cơ bản rạch vạt phải gọn một đường dao đi đến tận xương, cắt luôn màng xương thì bạn bóc tách sau đó sẽ không bị nham nhở vạt.
Cái này hay gặp ở các Bs trẻ rạch chưa chắc tay nên bóc tách nham nhở máu me chảy be bét lại càng làm khó mình khi thực hiện các bước tiếp theo.
.
Tạo vạt tối thiểu là quan trọng, rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng vạt càng rộng sưng đau sau phẫu thuật càng tăng.
Điều này cũng hết sức dễ hiểu vì chỉ có mô mềm phù nề gây sưng chứ xương không thể nở to ra được. Tất nhiên sưng đau cũng có liên quan đến mức độ mở xương.
.
Vạt tối thiểu là cần đủ để quan sát phẫu trường nên phụ thuộc vào vị trí và kích thước răng cần nhổ. Tối thiểu là tiên lượng sau khi mở xương bộc lộ răng thì vạt bộc lộ thêm 2-3mm xương, nhất là khi dùng tay khoan mở xương không bị cuốn vạt. Việc mở xương bằng Piezotome sẽ nói thêm ở dưới.
.
Qua các bài báo về những loại vạt sử dụng trong nhổ răng khôn thì hầu hết lựa chọn 3 loại vạt cơ bản ( Izquierdo Gomez 2018: A Systematic review):
- Vạt bao:
+ Ưu điểm: hạn chế chảy máu, dễ khâu đóng, ít tiêu xương và viêm xương sau nhổ, bảo tồn tốt lợi sừng hoá, ít sưng đau hơn.
+ Nhược điểm: Phẫu trường hạn chế, khó khăn khi mở xương bằng tay khoan vì dễ bị cuốn, lành thương chậm hơn.
+ Khuyên dùng: Dùng khi bệnh nhân há miệng rộng, tốt, răng nằm cao, không đòi hỏi mở nhiều xương khi nhổ. Khi cần nên mở thêm đường giảm căng.
.
- Vạt tam giác:
+ Ưu điểm: Phẫu trường tốt, dễ mở xương bằng tay khoan, lành thương tốt.
+ Nhược điểm: chảy máu nhiều, kém bảo tồn chiều cao lợi sừng hoá, khâu đóng khó, sưng đau nhiều hơn vạt bao, bám dính lợi phía xa R7 kém hơn.
+ Khuyên dùng: Bệnh nhân hạn chế há miệng, răng nằm thấp cần mở xương nhiều.
.
- Vạt tam giác cải tiến:
+ Ưu điểm: Phẫu trường tốt, dễ mở xương, lành thương tốt, bảo tồn chiều cao mô lợi sừng hoá.
+ Nhược điểm: chảy máu nhiều, khó khâu đóng, sưng đau nhiều hơn.
+ Khuyên dùng: Bệnh nhân hạn chế há miệng, răng nằm thấp cần mở nhiều xương, đặc biệt răng trước răng khôn tụt lợi, lợi sừng hoá ít.
.
CHÚ Ý : cả 3 loại vạt đều có đường rạch phía xa nên chếch má nhẹ để tránh tĩnh mạch quặt ngược ngay phía xa trong gây chảy máu nhiều trong quá trình nhổ khó quan sát lại sưng đau tăng sau nhổ.
Hơn nữa cũng tránh trường hợp thần kinh lưỡi đi lên cao.
.
.
b) Mở xương
Với các bạn răng hàm mặt không còn lạ gì phân loại của Parant có 4 loại tương ứng 4 mức độ khó của răng.
- Loại I: Nhổ răng chỉ cần dùng kìm, bẩy không cần mở xương.
Khi răng mọc lên hoàn toàn, bờ viền xương nằm dưới cổ giải phẫu của răng, hoặc có thể chỉ cắt 1 phần thân răng là có lối ra cho răng không cần mở xương.
Trường hợp này bạn không cần lựa chọn nhổ răng bằng Piezotome.
Vì đây là nhổ răng khôn bỏ đi chứ không phải nhổ để cấy Implant nên việc sang chấn tối thiểu quá tinh tế không cần thiết lắm.
Với chất lượng bẩy hiện nay nhiều loại lưỡi mỏng vẫn cứng, bền đủ để lách tự tạo điểm bẩy. Quan trọng là bạn có đặt và xoay bẩy đúng hay không thôi.
.
- Loại II: Nhổ răng cần mở xương.
Xương phủ một phần đường vòng lớn nhất, không có điểm bẩy cần mở xương tạo đường ra cho răng và điểm bẩy.
Trường hợp này Piezotome có hiệu quả vì không đòi hỏi mở nhiều xương, mũi Piezotome đi vào khe răng - xương vòng quanh răng là có điểm bẩy, cắt dây chằng và tạo đường ra cho răng.
Piezotome có ưu điểm là không lo cuốn vạt như tay khoan, cắt dây chằng xuống đến sâu giúp lung lay răng dễ dàng hơn.
Và chính bởi cơ chế rung, mài thay thì xoay cắt của tay khoan nên dùng Piezotome ít bị chảy máu từ xương hơn là cắt tay khoan.
Mặt hạn chế của nó là không thể mở nhanh khi răng nằm thấp cần mở nhiều xương. Điều này được chứng minh qua rất nhiều nghiên cứu trên thế giới.
.
- Loại III: Nhổ răng cần mở xương, chia cắt thân răng đơn giản.
Trường hợp này đòi hỏi mở xương vừa phải, có thể kết hợp Piezotome với tay khoan nếu cần. Tuỳ mức độ kẹt và xương cần mở.
Nếu độ rộng xương cần mở trên 2mm thì nên kết hợp tay khoan vì nếu mở nhiều xương bằng đầu rung sẽ cần tỳ nhiều nhanh hỏng tay Piezotome và tốn nhiều thời gian làm cuộc nhổ kéo dài gây sưng đau tăng.
Sẽ bàn luận nhiều hơn ở phần 3 về cái nhìn tổng quan trong tiên lượng sưng đau.
Cắt răng thì đừng có dùng Piezotome ( lâu và dễ hỏng Piezotome).
.
- Loại IV: Nhổ răng phức tạp có mở xương, chia cắt thân, chân răng tuỳ từng trường hợp.
Đặc biệt là răng nằm rất thấp so với răng hàm kế trước răng khôn.
Trường hợp này bắt buộc kết hợp tay khoan mở xương trước vì dùng Piezotome quá tốn thời gian. Có thể kết hợp Piezotome cắt dây chằng và tạo điểm bẩy sau đó.
Trường hợp gãy chóp chân răng, đặc biệt là chân răng sát ống thần kinh hoặc xoang hàm thì Piezotome là giải pháp hiệu quả và an toàn.
.
Một kinh nghiệm sương máu tôi vẫn thường chia sẻ với các bạn Bs trẻ và các em SV là nhổ răng đơn giản chỉ là tiên lượng và chuyển bước theo thứ tự Parant khi bẩy thấy răng chắc thì chia chân. Chân răng cong thì đừng đặt bẩy ở vị trí ngược chiều là được.
.
Nếu có phim CT.Conebeam (3D) thì tiên lượng nhổ răng chuẩn hơn chút. Với phim 2D khó tiên lượng kế hoạch hơn. Chân răng có thể cong hướng ngang mà bạn không biết nên TUYỆT ĐỐI KHÔNG LOAY HOAY BẨY CỐ để hy vọng răng ra vì như vậy tốn nhiều time nguy cơ tan tê, bệnh nhân đau, và thời gian nhổ lâu sưng đau càng tăng.
.
Có thể thử đặt bẩy ở một điểm khác vì có thể điểm bẩy trước không lung lay do chân cong ngược chiều bẩy, nếu vẫn không lung lay tẹo nào thì quyết định chia chân luôn. Cứ tuần tự rồi răng sẽ ra thôi.
Trường hợp nữa là với những răng chưa đóng chóp bẩy lung lay rất dễ nhưng loay hoay mãi không ra hãy chia cắt cái răng đó thành vài mảnh mà gắp dần. Không nên cố bẩy chờ nó ra vì khả năng nó kẹt đường và cũng không cần thiết mở thêm nhiều xương.
.
.
3. KHÂU ĐÓNG VẠT
Phần này cũng trong phẫu thuật nhưng tôi chia ra đoạn riêng vì tầm ảnh hưởng của nó đến việc sưng đau.
Nhiều nghiên cứu chứng minh rõ ràng việc dẫn lưu giúp giảm sưng đau rất hiệu quả. Nhưng trong nhổ răng khôn ít ai đặt dẫn lưu vì thế việc khâu để thoát được dịch viêm ra giúp giảm sưng đau cũng hiệu quả.
.
Với những răng đã mọc lộ trong khoang miệng bạn chỉ nên khâu phục hồi lại vạt điểm rạch và khâu thưa đủ ép mép vạt chứ không nên kéo vạt khâu kín làm tăng sưng đau. Hơn nữa khâu kín lại cũng rất khó để mép liền với nhau.
.
Kéo vạt căng khâu kín trong nhổ răng khôn làm chậm lành thương nếu khâu bằng chỉ tiêu nhanh như Catgut thì vạt nhanh chóng bung sau 4-7 ngày mà 2-3 ngày đầu chưa bung vạt kín lại gây sưng đau nhiều.
.
Khâu kín giúp hạn chế chảy máu sau nhổ nhưng tôi vẫn hay nói vui đặc biệt với bạn nữ nhổ răng là chảy máu khi đến chu kỳ kéo dài vài ngày và chảy nhiều vậy còn không sao thì chảy máu sau nhổ răng rỉ rỉ thông thương 1 ngày vẫn thường gặp và chả có gì đáng lo lắng cả, chảy máu thì cầm máu. Sẽ nhắc tới trong phần 3.
.
Tôi nhớ nhất trường hợp một bà cụ 78 tuổi có bệnh lý nền tim mạch phải dùng thuốc chống đông nhổ răng trong Bệnh viện, Bs trước đó nhổ có làm gãy mảnh xương ổ răng lủng liểng nhưng không lấy ra làm bà bị chảy máu trong miệng kéo dài suốt 3 ngày mới quay lại.
.
Khi tôi khám miệng bà vẫn cắn gạc và ngậm cả cục máu đông to. Tình trạng kéo dài rỉ máu 3 ngày vẫn tự thay gạc cắn ép nhưng không cầm hoàn toàn. Và bà vẫn nói chuyện bình thường chả thấy mệt mỏi gì mới ghê chứ.
.
Xem kết quả công thức máu và đông máu cơ bản cũng chưa có gì đáng ngại, hôm sau tái khám thì đã ổn hết bà còn đòi làm hàm giả sớm.
.
Vậy nên các bạn có thấy chảy máu rỉ rỉ chút sau nhổ răng là hết sức bình thường, báo cho Bs để hướng dẫn cách cầm máu là ổn.
Tất nhiên vẫn nên tiên lượng trước nguy cơ chảy máu ở những bệnh nhân có bệnh lý nền, bệnh nhân ở xa và bệnh nhân tâm lý kém thì ta vẫn khâu kín chấp nhận nguy cơ sưng đau hơn.
Trường hợp chảy máu quá nhiều nhất là liên quan đến u, nang, mạch máu lớn thì phải cầm máu kịp thời kẻo nguy hiểm tính mạng.
Cảm ơn đã đọc đến đây.
Ths.Bs Huy Hoàng
Răng Hàm Mặt
Sống có tâm!
Làm có tầm!
Sẵn Sàng trả lời Triệu Câu Hỏi Vì Sao trong Răng Hàm Mặt.
Chờ phần 3 tiên lượng toàn diện sưng đau và hướng dẫn chăm sóc sau nhổ răng khôn nha.




Nhận xét
Đăng nhận xét