Chủ đề thứ 3: Nghiến răng khi ngủ, thói quen siết chặt răng hai hàm có cần điều trị không???
- Nếu cần thì khi nào? sao cho đơn giản, hiệu quả.
- Chọn loại máng nhai và hướng điều trị phù hợp cho nghiến răng có hoặc không liên quan đau cơ, khớp thái dương hàm ở 2 bên tai.
Theo thống kê số lượng người nghiến răng quá lớn (5,9-88%) mà tài liệu tiếng việt chưa đầy đủ về cách can thiệp, với chưa thấy ngay hậu quả nên cả Bs và bệnh nhân ít quan tâm. Hơn nữa khi liên quan đến khớp thái dương hàm nhiều Bs vẫn còn lúng túng lựa chọn điều trị phù hợp.
Bài viết dành cho cả bệnh nhân và Bác sĩ, từ trước tới nay cũng chưa thấy nhiều bài hệ thống lại việc sử dụng máng nhai phù hợp.
PHẦN ĐẦU TÓM TẮT CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI
1. Tự phát hiện, liên hệ bản thân và người nhà:
- Người thân thấy khi bạn ngủ tạo tiếng kêu ken két hoặc bạn tự thấy khi stress hai hàm răng vô thức cắn rất chặt vào nhau, mỏi cơ nhai.
- Các răng liền nhau đều mòn phẳng như cắt và khớp khít hai hàm hoặc vỡ nhiều núm răng trong hàm trên.
- Ngoài ra bác sĩ khám và có các test ở những bệnh nhân mòn ít, chưa điển hình.
2. Kiểm soát và điều trị:
a. Kiểm soát ở trẻ em và thanh thiếu niên:
Hàm răng sữa, răng mới thay(dưới 20 tuổi).
- Giảm căng thẳng, loại bỏ thói quen xấu ở miệng, lối sống lành mạnh.
- Chỉ điều trị khi đau buốt răng nặng, đau nhức cơ, khớp.
b. Người lớn:
Ở người lớn thì đây là một tình trạng đòi hỏi phải can thiệp.
Đảm bảo hết tiếng kêu, thư giãn cơ, giảm hậu quả mòn và ê buốt răng!!!
- Mòn răng ít :
ĐEO MÁNG NHAI để chống mòn răng, góp phần giảm nhạy cảm.
+ Tối thiểu:
Đeo máng mua sẵn hoặc ép nhựa đơn thuần ở nha khoa.
+ Tốt nhất:
Đeo máng ổn định (Stabilization appliance): có điểm chạm đều khớp ở tương quan tâm, có hướng dẫn răng trước.
Máng BMAGO nằm trong nhóm này chỉ khác ít ở hướng dẫn ra trước.
Nhưng đòi hỏi Bs có chút kiến thức khớp cắn. Thời điểm và thời gian đeo ở dưới bài phân tích.
- Mòn nhiều, ê buốt nhiều.
+ Đeo máng + dùng kem chải răng, chất chống ê buốt đúng cách.
+ Dùng kem vẫn buốt, mòn quá nhiều:
Dán sứ hoặc chụp bọc 2 hàm có nâng khớp đúng để hạn chế mài răng nhiều vì răng đã mòn còn ngắn, nhỏ, dễ vào tuỷ, gãy vỡ, bong chụp. Có kết hợp đeo máng sau đó.
- Mòn bất kỳ + đau nhức cơ, khớp (không do chấn thương, đau dẫn truyền sâu):
+ Chỉ đau cơ: Đeo máng ổn định như trên.
+ Đau ở khớp có tiếng kêu khớp hoặc không.
Đeo máng định vị lại răng trước (đòi hỏi Bs có kiến thức khớp cắn)
Có 5 nguyên nhân thường gặp gây ra loạn năng khớp thái dương hàm. Nếu xác định nguyên nhân đau là do khớp cắn sẽ tuỳ mức độ để lựa chọn can thiệp chỉnh cắn, chỉnh nha, phục hình hoặc phẫu thuật.
Ths.Bs Huy Hoàng
Răng Hàm Mặt
Sống có tâm!
Làm có tầm!
Sẵn Sàng trả lời Triệu Câu Hỏi Vì Sao trong Răng Hàm Mặt.
- Đôi lời trước bài viết:
Tôi viết bài này vì thấy quá nhiều người nghiến răng và đau cơ, khớp thái dương hàm nên viết khá chi tiết cách chọn và dùng máng hy vọng các Bs có thể quan tâm hơn sau khi đọc và tìm hiểu thêm cách làm. Nếu cần thì inbox trao đổi chứ đừng cứ BN nghiến răng, đau khớp là chuyển. Làm vì đam mê thôi chứ làm máng nhiều quá chắc khóc thét.
Bộ khung bài viết theo lý thuyết của 2 nhà khớp cắn: Jeffrey P. Okeson và Peter E. Dawson kết hợp những bài báo khoa học, phần nhiều theo Okeson vì tôi nghĩ nó logic, đơn giản, hiệu quả và cập nhật.
Khớp cắn học khó hiểu nhưng nó là nền tảng cho hầu hết các lĩnh vực trong răng hàm mặt nên hãy cố gắng tìm hiểu và ít nhất là đọc những cuốn khớp cắn của 2 tác giả trên.
Đọc đi đọc lại mấy cuốn khớp cắn của 2 tác giả trên rồi ứng dụng, rút kinh nghiệm trên bệnh nhân giúp bạn có được sự đúc kết của trăm nghìn bệnh nhân từ 2 người khổng lồ về khớp cắn.
Việc đọc và ứng dụng giúp bạn hiểu rằng khớp cắn là nhìn tổng thể cả cơ, khớp và 2 hàm răng từ đó việc chỉnh khớp là tìm đến tương quan bộ 3 này lý tưởng nhất có thể trên bệnh nhân chứ không đơn thuần là chỉnh cho 2 hàm răng chạm đều nhau.
Tôi nhớ chỉ tính riêng BN nâng khớp của Dawson đã hơn 10,000 và Okeson cũng chả kém, chưa kể các bệnh nhân khớp cắn khác để viết được sách. Tôi vẫn nhắc lại là kinh nghiệm bản thân chưa bao giờ là đủ nếu chưa đăng được báo quốc tế tin cậy để khẳng định bản thân cả thế giới công nhận.
Có điều thú vị là tôi cũng có nghiến răng, chính vì thế tôi đã tìm tài liệu và có những thử nghiệm, cảm nhận trên chính bản thân mình nay xin chia sẻ một chút hy vọng giúp mọi người hiểu rõ hơn.
Bài viết có thể mâu thuẫn với quan điểm của một số Bác sĩ.
Nhưng quan điểm của tôi vẫn luôn tin vào tài liệu nước ngoài và bài báo quốc tế, nhiều lúc tôi vẫn cứ bật Thầy tanh tách. Mong được thông cảm, nếu có quan điểm khác thì xin gửi tài liệu trao đổi thêm.
PHẦN PHÂN TÍCH CHO AI THÍCH ĐỌC
- Nghiến răng khi ngủ và siết chặt răng ban ngày hoặc đêm khá thường gặp. Nghiến răng thì người nhà dễ phát hiện còn siết chặt răng thì đôi khi bạn cũng tự thấy, nhất là lúc stress.
- Tần suất và thời gian nghiến răng khác nhau ở mỗi người. Có người hôm nghiến hôm không, có người ngày nào cũng nghiến kéo dài.
- Theo một số thống kê thì tỷ lệ gặp rất cao:
o Eduardo2014 có 5,9-49,6% trẻ em nghiến răng, có báo cáo lên đến 88%.
o Mauro2017 có 31% ở người lớn nghiến răng.
- Nhiều người không biết là mình có nghiến răng vì nó là vô thức nghiến lúc đang ngủ.
- Đa phần mọi người không thấy ngay những tác hại của nó nên cứ tặc lưỡi kệ đi.
- Người chung giường thường thấy sợ và khó ngủ khi nghe thấy tiếng ken két của người có nghiến răng.
- Người có nghiến răng, siết chặt răng thường gặp một số vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống:
o Thường mỏi cơ nhai khi ngủ dậy.
o Về lâu dài răng mòn cụt, sứt vỡ nhiều núm trong hàm trên dẫn đến ê buốt nhạy cảm khó ăn nhai, thẩm mỹ kém.
o Dễ đau nhức cơ nhai, vai gáy, đau đầu, đau tai, khớp thái dương hàm ở 2 bên tai.
o Tổn thương tổ chức quanh răng gây ra lung lay răng.
o Khi nghiến răng ngủ sẽ không sâu giấc. Đã vậy còn dễ bị ăn đạp từ người bên cạnh.
- Việc điều trị đôi khi cũng đơn giản và mất hẳn tiếng ken két. Mà Vợ/ chồng quen tiếng ken két rồi đến lúc không thấy có khi lại không ngủ được.
- Nếu không rõ thì đến bác sĩ nha khoa khám bề mặt răng cũng có thể phát hiện hay chắc chắn hơn nữa có một số test chẩn đoán.
- Điều trị luôn cố gắng đi từ nguyên nhân nhưng nguyên nhân của nghiến răng và siết chặt răng vẫn chưa thật sự biết rõ nên chỉ có thể dựa vào yếu tố liên quan để định hướng điều trị kết hợp giảm hậu quả, theo nhiều báo cáo có liên quan nhiều nhất:
1. Tình trạng stress, các vấn đề về tâm lý, chất kích thích, thuốc.
Càng stress tần suất nghiến càng nhiều, càng nặng.
2. Các vấn đề về khớp cắn.
Nhiều báo cáo thấy có liên quan đến khớp cắn nhưng vẫn có một số nghiên cứu kết luận không hoặc ít liên quan khớp cắn.
3. Thói quen xấu ở miệng.
Như mút tay, cắn móng tay, đẩy lưỡi, mút môi, thở miệng, có vấn đề về đường thở…
4. Có liên quan yếu tố gia đình, tỷ lệ trẻ nghiến răng cao ở gia đình có bố hoặc mẹ hay cả hai nghiến răng.
5. Khác nhau theo độ tuổi.
Trẻ em nghiến răng nhiều hơn người lớn và hậu quả của nghiến răng trong thời gian dài mới thấy rõ nên việc điều trị cũng khác nhau theo độ tuổi.
- Qua các yếu tố liên quan trên sẽ có định hướng điều trị như sau:
1. Thư giãn, giảm căng thẳng, thay đổi lối sống lành lạnh, bỏ thói quen xấu.
Áp dụng với tất cả các độ tuổi.
2. Phổ biến điều trị thường là một số loại máng thích hợp. Không phải trường hợp nào cũng ốp nguyên một loại máng nha các bạn, có 2 loại máng thường dùng.
3. Với tình trạng nặng có thể phải sử dụng thuốc.
4. Điều trị duy trì hoặc kết hợp chỉnh cắn, chỉnh nha, phục hình theo từng trường hợp cụ thể.
Kiểm soát và điều trị nghiến răng
1. Kiểm soát nghiến răng ở trẻ em và thanh thiếu niên:
- Kiểm soát yếu tố tâm lý: giảm áp lực, căng thẳng, thay đổi lối sống lành mạnh. Thi thoảng cho trẻ vui chơi chứ đừng áp lực quá.
- Loại bỏ thói quen xấu như mút tay, cắn móng tay, đẩy lưỡi, thở miệng, mút môi…
- Một số trường hợp có liên quan đến đường thở của trẻ thì cần can thiệp.
- Nghiến răng ở trẻ em thường chỉ cần như vậy là đủ, không đòi hỏi can thiệp nha khoa phức tạp gây áp lực thêm cho trẻ.
- Hệ thống cơ, khớp cắn của trẻ chưa phát triển ổn định nên việc can thiệp có thể gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của trẻ.
- Vậy can thiệp nhiều còn gây phản tác dụng vì không đứa nào thoải mái khi phải đeo máng hoặc dùng thuốc hay bất cứ can thiệp gì khác.
- Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ở trẻ em và thanh thiếu niên có nghiến răng nhưng khi lớn lên lại tự hết mà không cần điều trị.
a. Nghiến răng ở hàm răng sữa:
Chỉ can thiệp khi mòn quá gây đau buốt, trẻ khó ăn nhai, đau nhức cơ (Rochelle2018), dự phòng sâu răng giống trẻ khác.
Cuối bộ răng sữa có thể mòn nhiều rồi cũng thay không lo.
b. Nghiến răng với hàm răng hỗn hợp hoặc răng vĩnh viễn trẻ:
Rất hiếm gặp tình trạng làm tổn thương nhiều đến mức phá huỷ răng, tổ chức quanh răng. Để mòn răng nhiều đến mức can thiệp cần phải nghiến răng hàng chục đến vài chục năm.
o Nếu đau cơ nhai, khớp thái dương hàm hai bên tai thì cần điều trị nhưng cũng hiếm gặp.
o Can thiệp máng ở giai đoạn này dễ ảnh hưởng đến sự phát triển mọc răng, thích nghi bình thường của khớp cắn, ảnh hưởng đến phát triển cung răng, lồi cầu, kích thước dọc…
- Việc can thiệp chỉnh nha vẫn theo chỉ định thông thường của chuyên ngành chỉnh nha chứ không phải do nghiến răng.
2. Sơ lược kiểm soát, điều trị nghiến răng ở người lớn.
Điều trị sẽ theo các mức độ khác nhau như đã nêu ở đầu bài viết nhưng chủ yếu liên quan đến sử dụng các loại máng.
Nghiến răng đêm thì đeo khi ngủ, thói quen siết chặt thì đeo lúc stress, lúc hay siết chặt. Vừa nghiến vừa siết thì đeo khi ngủ và lúc hay siết chặt hàm.
Máng hay dùng nhất là máng ổn định, nếu có tổn thương khớp thì chuyển dùng máng định vị lại răng trước.
Kèm đau nhức cơ, khớp thái dương hàm thì cân nhắc 5 nguyên nhân: khớp cắn, chấn thương, stress, đau dẫn truyền sâu hoặc do hoạt động cận chức năng. Nếu do khớp cắn thì cần điều chỉnh khớp cắn.
Ngoài ra khi siết chặt răng bạn có thể chủ động đặt lưỡi vào vùng cửa giữa 2 hàm thì bạn sẽ ngừng ngay được việc siết chặt. Tránh đặt trong thời gian quá dài làm ảnh hưởng khớp cắn.
2.1. Một số loại máng, ưu nhược điểm và cách dùng.
2.1.1 Máng làm sẵn:
- Ưu điểm: rẻ, có thể tự mua được, cũng giúp chống mòn răng, giãn cơ.
- Nhược điểm: Thường là máng dẻo, nhưng do làm sẵn không sát khít đeo khó chịu, cồng kềnh và dễ tuột ra trong lúc nghiến khi ngủ làm tỉnh giấc.
2.1.2 Máng ép nhựa đơn thuần làm ở phòng khám (hình như mỗi Việt Nam chơi kiểu này)
- Với đa số bệnh nhân đến khám Bác sĩ răng với Bs chưa tìm hiểu nhiều thì đa phần lấy mẫu răng làm cho cái máng ép nhựa dẻo hoặc cứng đơn thuần về đeo buổi tối cho đỡ mòn răng. Nhìn chung thì méo mó có vẫn hơn không, cũng đỡ mòn, đôi khi cũng đỡ mỏi cơ vì bản thân việc đeo máng giúp giãn cơ, khớp một phần.
- Cơ mà hên xui vì dùng lâu dài máng ép này đưa toàn bộ điểm chạm về răng sau, mất hướng dẫn răng trước có thể làm nghiêm trọng hơn tình trạng bệnh.
- Phải đeo cả hai hàm không thì lâu dài sẽ gây trồi ở các răng đối diện không chạm máng lúc đeo.
2.1.3. Máng ổn định (Stabilization appliance) dùng phổ biến nhất.
- Bác sĩ cần có kiến thức cơ bản về khớp cắn để chỉnh máng, lấy được tương quan tâm. Tôi cũng đang đeo máng này. (tự làm, tự chỉnh sửa cắn nên có cảm nhận khá rõ của người đeo máng).
- Chỉ định: Dùng cho cả người nghiến răng thông thường và người có đau mỏi cơ.
- Nếu đau mỏi cơ tuỳ mức độ:
o Đau mỏi buổi sáng thường do nghiến răng đêm thì đeo khi ngủ, đau về chiều thường do stress sẽ đeo buổi chiều.
o Đau nhiều cả ngày thì đeo 24/24 bỏ ra khi vệ sinh răng miệng, chỉ ăn mềm được trên máng. Thời gian đeo khi đau không quá 6 tháng liên tục. Nếu có hiệu quả thì trong 2-4 tháng đã thấy cải thiện. Sau đó chuyển sang chỉ đeo buổi tối khi đi ngủ.
o Nếu đau tái diễn lặp đi lặp lại khi dừng đeo thì rất có thể nguyên nhân là do khớp cắn cần cân nhắc nguyên nhân để can thiệp chỉnh cắn, chỉnh nha, phục hình hoặc phẫu thuật giữ tương quan khớp cắn mới.
- Vì sao máng hiệu quả???
Theo nghiên cứu thì trên 80% thấy cải thiện triệu chứng đau, mỏi.
Ngoài chống mòn, giãn cơ ra thì máng ổn định đưa hướng dẫn về răng trước (góc khoảng 30-45 độ so với mặt phẳng cắn) giúp hệ cơ – khớp thư giãn thoải mái nhất vẫn đảm bảo được vận động lồi cầu vốn có của bệnh nhân và bệnh nhân có được hệ thống khớp lý tưởng nhất. Giống như ở người có bộ răng khớp lý tưởng sẽ rất ít bị mòn răng.
Ý nghĩa hướng dẫn chỉ về răng trước giúp hệ thống cơ nhai hiểu rằng không có chạm, cản trở răng sau lực cơ sẽ nhẹ nhàng hơn. Và đeo máng là đã giúp giãn cơ rồi.
Khi đeo máng lâu ngày làm thay đổi thói quen, bạn sẽ có thói quen cắn răng trước thay vì nghiến chặt răng sau như lúc chưa dùng máng. Sách viết vậy và bản thân tôi cũng có cảm giác này.
Nghiến nhiều thì phải đeo máng thường xuyên và lâu ngày vẫn có thể mòn máng cần làm lại.
Máng được chỉnh khớp cân bằng ở tương quan tâm và chỉ đeo buổi tối thì hiếm khi gây hậu quả trồi răng, di lệch răng khi đeo lâu ngày.
Máng BMAGO (Bioesthetic maxillary anterior guided orthotic) là một dạng tương tự loại này có thêm một số sửa đổi:
o Hướng dẫn ra trước bằng răng cửa thay vì răng nanh ở máng ổn định.
o 4 răng cửa cắn chạm đều ở tương quan tâm và chi tiết hơn thì máng BMAGO đòi hỏi sử dụng thêm shim stock (giống giấy cắn nhưng rất mỏng 8-12 μm) chỉnh nhóm răng cửa chạm đều (khuyến cáo khoảng 5-10 μm, tuỳ tác giả, có tác giả chọn 8 μm, EnKling2010 vẫn chọn 14,2 μm).
Nếu có shim stock thì tốt còn không quá khắt khe vì giấy cắn thường dùng 40-100μm chỉnh đều và hỏi bệnh nhân cảm giác chạm đều 4 răng cửa cùng lúc.
Hẹn 2 ngày sau quay lại đệm thêm nhựa cho chạm đều răng hàm phía sau (non hơn răng trước) như máng ổn định.
Tái khám mỗi 2 tuần kiểm tra chỉnh lại do máng mòn lại gây chạm mạnh răng sau.
Đạt 8 μm có vẻ khó, theo Okeson tái lập khớp cắn thì chỉnh khớp răng trước vẫn thường để non hơn răng sau điều quan trọng là cần đảm bảo hướng dẫn ra trước và sang bên phải nhả khớp răng sau ngay hơn nữa máng nhựa có độ đàn hồi cao.
Hiệu quả của BMAGO cũng tương đương vì thiết kế cơ bản vẫn là một loại máng ổn định.
2.1.4 Máng định vị lại răng trước (Anterior positioning appliance)
- Có thể làm ở hàm trên hoặc hàm dưới. Thời gian đeo khi có đau khớp thường 24/24. Chỉ bỏ ra khi vệ sinh răng miệng. Có thể ăn mềm trên máng. Thời gian đeo không quá 6 tháng liên tục, khi đỡ có chuyển sang máng ổn định và chỉ đeo buổi tối khi ngủ.
- Như nhiều Bs đã thấy những trường hợp tiêu chỏm lồi cầu do khớp cắn khi sử dụng máng và giữ vị trí tương quan lồi cầu đĩa khớp mới thấy lồi cầu hồi phục.
- Có thể dùng loại đeo hàm dưới cải thiện thẩm mỹ, đeo ban ngày. Nhưng hiệu quả có vẻ tương đương hoặc kém hơn máng hàm trên. Vậy đeo buổi tối thường làm máng hàm trên.
- Khác biệt của máng này là đặt lại vị trí lồi cầu, đĩa khớp nên chỉ định dùng khi có vấn đề ở trong khớp. Nếu bệnh nhân không có vấn đề trong khớp thì không cần dùng do đeo lâu ngày làm thay đổi tương quan lồi cầu, đĩa khớp đã thích nghi từ lâu của bệnh nhân là điều không cần thiết.
- Đã có rất nhiều nghiên cứu cố gắng tìm nguyên nhân của nghiến răng nhưng chưa có khẳng định chắc chắn là liên quan trực tiếp đến khớp cắn. Vậy nên can thiệp tốt nhất là đơn giản mà vẫn ngăn hậu quả của nghiến răng tối đa.
- Về bản chất cấu tạo máng gần giống máng ổn định và thêm một số sửa đổi:
o Có vị trí chặn răng cửa trượt ra sau.
o Chỉnh vị trí để chọn độ dày máng đòi hỏi hết tiếng kêu khớp, không còn đau.
- Sau khi triệu chứng giảm quay trở lại thay đổi thời gian đeo chỉ buổi tối và chuyển về máng ổn định. Nếu tái diễn đau lặp đi lặp lại cũng sẽ cân nhắc can thiệp giữ tương quan lồi cầu, đĩa khớp mới.
2.1.5 Một số loại máng và phương pháp khác:
- Mặt phẳng cắn răng trước (Anterior bite plane):
Cấu tạo là mặt phẳng cắn ở gót răng trên từ 6-8 răng phía trước. Có thể dùng trong điều trị đau cơ, khớp thái dương hàm hoặc nghiến răng. Nếu đeo nhiều thời gian sẽ có hậu quả trồi răng hàm nhưng nếu chỉ đeo khi ngủ thì cũng ít trồi răng.
- Mặt phẳng cắn răng trước mini (Mini anterior bite plane):
Cấu tạo là mặt phẳng cắn phía trước nhưng chỉ từ 2-4 răng cửa. Cũng có tác dụng tương tự loại trên trong điều trị. Một số nghiên cứu cho thấy hiệu quả giảm đau cơ bằng hoặc nhỏ hơn máng ổn định. Không đeo lâu dài vì hậu quả trồi răng sau.
- Máng thần kinh cơ (Neuromuscular Orthotic)
Máng này thiết kế đeo ở hàm dưới bằng cách sử đụng máy tính tìm ra vị trí hàm dưới mà ở đó hệ thống cơ được thư giãn nhất rồi thiết kế ra máng.
- Máng Pivot:
Dùng trong đau khớp nhất là trường hợp có tổn thương tổ chức đệm sau ổ khớp. Là máng định vị lại hàm dưới ra trước bằng cách tạo điểm cắn cân bằng răng sau và khi hàm dưới luôn đưa ra trước thì lồi cầu cũng đưa ra trước làm giảm áp lực phía sau ổ khớp để tổ chức tại đây lành thương và sơ hoá.
- Máng cân bằng thuỷ tĩnh (Hydrostatic Splint):
Là máng nhựa cứng có chưa khoang có nước ở 2 bên mặt nhai răng hàm, 2 khoang thông nhau qua 1 đường dẫn phía ngách tiền đình hàm trên. Khi 1 bên cắn chặt nước sẽ đẩy sang bên còn lại kích thích lực bên con lại làm cân bằng lực cắn hai bên. Mang thời gian dài cũng có hiệu quả cân bằng trái – phải.
- Máng cắn răng sau (Posterior bite plane appliance):
Sử dụng trong nâng khớp tăng kích thước dọc khi bị mất kích thước dọc. Có thể làm trồi răng trước, lún răng sau.
- Máng nhai Biofeeback:
Máng thiết kế nguồn điện nằm ở giữa khẩu cái, dây cảm biến trên mặt nhai cung răng. Khi lực nghiến 2 hàm tới ngưỡng khoảng 16.1 ± 5.1 Kg. Thì máng sẽ kích thích rung làm phản hồi lại cơ dẫn đến giảm nghiến. Ở mức lực này thì nuốt, ho không gây kích thích cảm biến.
- Ngoài ra còn có phương pháp châm cứu kích thích thần kinh cơ.
2.2. Khi mòn quá nhiều, dùng kem chống ê buốt không hiệu quả, mòn ảnh hưởng thẩm mỹ thì cần phục hình.
Khó khăn phục hình cho những bệnh nhân này là đòi hỏi nâng khớp đúng cách.
- Theo Dawson thì thực chất bệnh nhân mòn răng không thay đổi chiều cao tầng mặt dưới do mòn từ từ được bù trừ lại bằng xương ổ răng. Ông đã phục hình nâng khớp nhiều ca và theo dõi thì trong vòng khoảng 1 năm sau nâng khớp chiều cao tầng mặt dưới sẽ trở lại như cũ.
- Tất nhiên theo ông vẫn cố gắng giữ nguyên chiều cao tầng mặt dưới, hạn chế tối đa việc thay đổi kích thước dọc là tốt nhất nhưng trong trường hợp răng mòn quá nhiều không đủ khoảng thì việc nâng khớp vẫn có thể thực hiện.
- Nguyên tắc cơ bản trong nâng khớp theo Dawson là phải nâng xoay hàm dưới để lồi cầu luôn ở tương quan tâm, không làm tăng chiều dài vùng cơ cắn, tôn trọng nguyên tắc cơ luôn thắng. Ví dụ nâng 2mm ở răng cửa thì ta chỉ được khoảng 1mm ở răng hàm lớn.
- Để hiểu rõ hơn về nâng khớp thì bạn nên tìm hiểu thêm trong cuốn khớp cắn của Dawson.
Hy vọng bài có ý nghĩa với các bạn.
Tôi mong muốn theo nhu cầu chung của mọi người là chính nên nếu số đông có chủ đề hay muốn hiểu rõ hơn thì comment phía dưới nếu cần cho số đông thì nhất định sẽ có bài chi tiết.
Cảm ơn bạn đã đọc hết.
Chờ đón bài tiếp theo nha!




Nhận xét
Đăng nhận xét